Chào mừng ngày nhà giáo Việt nam 20/11
Saigon ca dao

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Hoàng Đình Huỳnh (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:31' 04-11-2010
Dung lượng: 38.0 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn: st
Người gửi: Hoàng Đình Huỳnh (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:31' 04-11-2010
Dung lượng: 38.0 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Sài Gòn trong ca dao
Sài Gòn là Hòn ngọc Viễn Đông, là một thành phố lớn nhất Việt Nam. Những nơi như Sài Gòn được mệnh danh là Kẻ Chợ, đã là Kẻ Chợ ắt có chợ, mà phải là ngôi chợ lớn, khách Lục tỉnh lên thăm Sài Gòn, ra vào chợ Sài Gòn hẳn không quên. Chợ Sài Gòn được đồng bào Hậu Giang so sánh với ngôi chợ tỉnh nhà: Chợ Sài Gòn cẩn đá, Chợ Rạch Giá cẩn xi măng. Giã em xứ sở vuông tròn, Anh về xứ sở không còn ra vô. Người con gái ở đô thành tiêm nhiễm nếp sống Tây phương, chàng trai xa nàng khỏi sao thắc mắc, lo nàng ở lại chẳng vuông tròn nên phải ra vô, nàng vuông tròn chàng yên tâm về xứ sở. Cúc mọc bờ ao kêu bằng cúc thủy, Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa. Viết thư thăm hết mọi nhà, Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em. Sài Gòn và Mỹ Tho, hai nơi cách nhau trên sáu chục cây số, nay tuy thật gần những xưa thật xa,vì phương tiện di chuyển đâucó dồi dào như nay, chàng và nàng dù đã yêu nhau, nhưng mỗi lúc tới thăm đâu có dễ dàng, đôi bên cùng bận làm ăn buôn bán, nàng ở chợ Sài Gòn, chàng ở chợ Mỹ Tho. Nhớ nhung nhau, chỉ biết tin thư thăm hỏi, lấy giấy thay lời. Chàng yêu nàng vì duyên, vì tình, tình yêu chân thật, đâu thấy nàng giàu mà ham hoặc thấy nàng nghèo mà chê. Chợ Sài Gòn đèn xanh, đèn đỏ, Anh coi không tỏ, anh ngỡ đèn tàu. Lấy anh em đâu kể sang giàu, Rau dưa mắm muối có nơi nào hơn em. Chợ Sài Gòn với những hàng quảng cáo đèn màu xanh đỏ, chàng trai quê lên nhầm lẫn đó là đèn tàu. Sự lầm lẫn thị giác này có thể có được, nhưng lầm về yêu đương, chàng đâu có lầm. Chàng lấy nàng đâu có kể sang giàu, vì tièn tài bao nhiêu cũng có thể hết, duy tình nghĩa mới bền lâu, như người xưa đã nói: Theo vàng bỏ ngãi ai hơi, Vàng thời đã hết, ngãi tôi vẫn còn. Chính vì nghĩa mới bền lâu, nên khi xa người nghĩa, người con trai đứng ngồi không yên: Chim quyên xuống đất tha mồi, Tôi xa người nghĩa đứng ngồi không yên! Giấy tây bán mấy, Mua lấy tờ nguyên, Làm thơ hỏi bạn tình duyên chuyện gì? Mến thương nàng, đem nàng so sánh với các nàng Lục tỉnh, cô gái Sài Gòn thật hơn: Nội trong lục tỉnh Nam kỳ, Mấy ai được nết nhu mì như em. Hai hàng lụy ngọc ướt nhèm, Làm sao cho đặng anh với em giao hòa. Sự ước vọng, lòng mong mỏi của chàng là được cùng nàng giao hòa! Chợ Sài Gòn ngày nay ta vẫn gọi là chợ Bến Thành, nhưng Bến Thành trước đây là bến tàu và hàng ngày thường 10 giờ thì tàu đến bến này: Mười giờ tàu lại Bến Thành, Súp lê còi thổi bộ hành lao xao. Sao lại mệnh danh Bến Thành? Phải chăng đây là bến của đô thành Sài Gòn hay của Gia Định thành? Còn khách bộ hành lao xao vì muốn ngắm tàu Tây. Anh ngồi quạt quán Bến Thành, Nghe em có chốn anh đành quăng om! Anh ngồi quạt quán Bà Hom, Hành khách chẳng có, đá om quăng lò. Chàng trai ngồi quạt quán ở Bến Thành với bình trà Huế, được tin người mình thương đã có nơi chốn, chàng tỏ buồn rầu quẳng cả bình trà đi! Kể cũng đáng buồn, tưởng được cùng người thương thưởng thức bình trà (om) ngon, ngờ đâu nàng là hoa có chủ, chàng đành ôm hận, trút mối giận vào om, cái bình trà vô tội. Nhắc đến Bến Thành, quên sao được thành Tây: Dân dất Bắc, Đắp thành Tây. Đông thật là đông, Sầu Nam vời vợi. Câu này gồm đủ đông, tây, nam, bắc! Dân đất Bắc phải chăng những người dân miền Bắc bị đưa vào Nam làm dân phu, đắp thành cho người Tây? Số dân phu ắt nhiều lắm, Đông thật là đông. Sự đông đúc này quả là một mối sầu vời vợi cho nước Nam, cho dân Nam! Nước mất nhà tan, thân làm nô lệ, phải đi đắp thành cực khổ cho Tây để chúng dựa vào thành trì đô hộ đồng bào mình. Người miền Bắc bị đi dân phu hằng than thở: Nhà tan nước mất ai ơi, Cái thân nô lệ sống đời cu ly! Người dân than thân như vậy, nhưng vẫn có bọn mũ cao áo dài
Sài Gòn là Hòn ngọc Viễn Đông, là một thành phố lớn nhất Việt Nam. Những nơi như Sài Gòn được mệnh danh là Kẻ Chợ, đã là Kẻ Chợ ắt có chợ, mà phải là ngôi chợ lớn, khách Lục tỉnh lên thăm Sài Gòn, ra vào chợ Sài Gòn hẳn không quên. Chợ Sài Gòn được đồng bào Hậu Giang so sánh với ngôi chợ tỉnh nhà: Chợ Sài Gòn cẩn đá, Chợ Rạch Giá cẩn xi măng. Giã em xứ sở vuông tròn, Anh về xứ sở không còn ra vô. Người con gái ở đô thành tiêm nhiễm nếp sống Tây phương, chàng trai xa nàng khỏi sao thắc mắc, lo nàng ở lại chẳng vuông tròn nên phải ra vô, nàng vuông tròn chàng yên tâm về xứ sở. Cúc mọc bờ ao kêu bằng cúc thủy, Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa. Viết thư thăm hết mọi nhà, Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em. Sài Gòn và Mỹ Tho, hai nơi cách nhau trên sáu chục cây số, nay tuy thật gần những xưa thật xa,vì phương tiện di chuyển đâucó dồi dào như nay, chàng và nàng dù đã yêu nhau, nhưng mỗi lúc tới thăm đâu có dễ dàng, đôi bên cùng bận làm ăn buôn bán, nàng ở chợ Sài Gòn, chàng ở chợ Mỹ Tho. Nhớ nhung nhau, chỉ biết tin thư thăm hỏi, lấy giấy thay lời. Chàng yêu nàng vì duyên, vì tình, tình yêu chân thật, đâu thấy nàng giàu mà ham hoặc thấy nàng nghèo mà chê. Chợ Sài Gòn đèn xanh, đèn đỏ, Anh coi không tỏ, anh ngỡ đèn tàu. Lấy anh em đâu kể sang giàu, Rau dưa mắm muối có nơi nào hơn em. Chợ Sài Gòn với những hàng quảng cáo đèn màu xanh đỏ, chàng trai quê lên nhầm lẫn đó là đèn tàu. Sự lầm lẫn thị giác này có thể có được, nhưng lầm về yêu đương, chàng đâu có lầm. Chàng lấy nàng đâu có kể sang giàu, vì tièn tài bao nhiêu cũng có thể hết, duy tình nghĩa mới bền lâu, như người xưa đã nói: Theo vàng bỏ ngãi ai hơi, Vàng thời đã hết, ngãi tôi vẫn còn. Chính vì nghĩa mới bền lâu, nên khi xa người nghĩa, người con trai đứng ngồi không yên: Chim quyên xuống đất tha mồi, Tôi xa người nghĩa đứng ngồi không yên! Giấy tây bán mấy, Mua lấy tờ nguyên, Làm thơ hỏi bạn tình duyên chuyện gì? Mến thương nàng, đem nàng so sánh với các nàng Lục tỉnh, cô gái Sài Gòn thật hơn: Nội trong lục tỉnh Nam kỳ, Mấy ai được nết nhu mì như em. Hai hàng lụy ngọc ướt nhèm, Làm sao cho đặng anh với em giao hòa. Sự ước vọng, lòng mong mỏi của chàng là được cùng nàng giao hòa! Chợ Sài Gòn ngày nay ta vẫn gọi là chợ Bến Thành, nhưng Bến Thành trước đây là bến tàu và hàng ngày thường 10 giờ thì tàu đến bến này: Mười giờ tàu lại Bến Thành, Súp lê còi thổi bộ hành lao xao. Sao lại mệnh danh Bến Thành? Phải chăng đây là bến của đô thành Sài Gòn hay của Gia Định thành? Còn khách bộ hành lao xao vì muốn ngắm tàu Tây. Anh ngồi quạt quán Bến Thành, Nghe em có chốn anh đành quăng om! Anh ngồi quạt quán Bà Hom, Hành khách chẳng có, đá om quăng lò. Chàng trai ngồi quạt quán ở Bến Thành với bình trà Huế, được tin người mình thương đã có nơi chốn, chàng tỏ buồn rầu quẳng cả bình trà đi! Kể cũng đáng buồn, tưởng được cùng người thương thưởng thức bình trà (om) ngon, ngờ đâu nàng là hoa có chủ, chàng đành ôm hận, trút mối giận vào om, cái bình trà vô tội. Nhắc đến Bến Thành, quên sao được thành Tây: Dân dất Bắc, Đắp thành Tây. Đông thật là đông, Sầu Nam vời vợi. Câu này gồm đủ đông, tây, nam, bắc! Dân đất Bắc phải chăng những người dân miền Bắc bị đưa vào Nam làm dân phu, đắp thành cho người Tây? Số dân phu ắt nhiều lắm, Đông thật là đông. Sự đông đúc này quả là một mối sầu vời vợi cho nước Nam, cho dân Nam! Nước mất nhà tan, thân làm nô lệ, phải đi đắp thành cực khổ cho Tây để chúng dựa vào thành trì đô hộ đồng bào mình. Người miền Bắc bị đi dân phu hằng than thở: Nhà tan nước mất ai ơi, Cái thân nô lệ sống đời cu ly! Người dân than thân như vậy, nhưng vẫn có bọn mũ cao áo dài
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓














Các ý kiến mới nhất